Rắn cổ đỏ: Đặc điểm, tập tính, phân bố và nọc độc

Rắn cổ đỏ hay còn có một tên gọi “mỹ miều” khác là rắn hoa cỏ cổ đỏ là một trong những loài rắn có màu sắc sặc sỡ và sở hữu những đặc tính rất đặc biệt. Cùng tìm hiểu những thông tin về hình dáng, hành vi, môi trường sống và nọc độc của loài rắn này trong bài viết sau.

Hình ảnh rắn cổ đỏ
Hình ảnh rắn cổ đỏ

Mô tả đặc điểm rắn cổ đỏ

Rắn cổ đỏ (rắn hoa cỏ cổ đỏ) có tên khoa học là Rhabdophis subminiatus. Đây là một loài nằm trong họ rắn nước Colubridae, thuộc bộ Squamata. Loài rắn này được nhà khoa học Hermann Schlegel mô tả lần đầu tiên vào năm 1837.

Nhờ sở hữu những đặc điểm sau về ngoại hình mà loài rắn cổ đỏ được mệnh danh là “nữ hoàng bóng đêm”, cụ thể là:

  • Loài rắn này có kích thước nhỏ với chiều dài chỉ khoảng 130cm. Từ phần đầu đến phần cổ sẽ thuôn dài để phân biệt rõ ràng cổ – đầu.
  • Rắn cổ đỏ có hai lỗ mũi tròn. Quan sát có thể thấy lỗ mũi nằm ở giữa của tấm mũi rồi chia thành đường nối giữa hai tấm gần mũi sẽ gần bằng với đường nối ở giữa hai tấm phía trước trán.
  • Ở tấm trán có độ dài hơn là rộng và kích thước nhỏ hơn so với tấm đỉnh nhưng lại ngắn hơn so với khoảng cách đến phần mút mõm. Ngoài ra, rắn hoa cỏ cổ đỏ sẽ có một tấm má dài và cao hơn một chút, tấm này có vị trí nằm ở trên của tấm mép phía trên thứ hai, phần phía trên sẽ tiếp xúc với phần tấm trước trán. Như vậy, quan sát phần đầu của rắn cổ đỏ sẽ thấy có tới 8 tấm mép trên nằm ở mỗi bên. Trong đó, tấm thứ 3,4 và 5 thì sẽ chạm mắt rắn còn tấm 8, 9, 10 thì sẽ là tấm méo dưới nằm ở dưới của mỗi bên. Tấm ở cằn rắn sẽ có hình tam giác, quan sát sẽ thấy tấm này rộng hơn là dài.
  • Phần vảy ở thân rắn cổ đỏ sẽ có 19 hàng và có gờ, ngoại trừ hàng vảy ngoài cùng là nhẵn và không có gờ. Phần vảy ở bụng có từ 160-167 tấm. Trong khi đó, phần vảy ở dưới đuôi thì chỉ có 84-86 tấm. Phần tấm ở hậu môn thì chia ra.
  • Rắn hoa cỏ cổ đỏ có thân màu xanh đen (xanh ô liu) hoặc là màu xám đen còn màu tại phần đầu lại sẫm màu hơn các vùng còn lại. Nửa trước của thân rắn thường sẽ có các vân màu đen và phần vân này thường không đều ở vị trí giữa lưng rắn so với hai bên thân của rắn. Phần mép rắn có màu trắng, trong khi đó phần gáy có thể có hoặc là không có phần vòng đen. Phần cổ rắn cổ đỏ có màu vàng nhạt cho tới màu nâu đỏ (Đặc điểm này ở rắn con rất rõ ràng, khi rắn trưởng thành thì màu sắc này sẽ nhạt hơn so với lúc nhỏ). Phần cằm và họng của rắn thì có màu trắng nhạt.

Với màu sắc sặc sỡ như vậy, tại một số vùng ở nước ta còn gọi loài rắn này là rắn hoa cỏ bảy màu. Ngoài ra, màu sắc sặc sỡ cũng chính là yếu tố giúp cá thể rắn cổ đỏ đực thu hút bạn tình trong mùa giao phối.

Loài rắn này cỏ phần cổ màu đỏ nổi bật
Loài rắn này cỏ phần cổ màu đỏ nổi bật

Tập tính và hành vi của rắn cổ đỏ 

Rắn cổ đỏ được ghi nhận là một loài có tính khí vô cùng thất thường. Theo mô tả của các nhà khoa học và trong thực tế, có những lúc loài rắn này khá hiền lành khi chúng chịu để yên để con người chạm vào người hay thậm chí là cầm trên tay. Tuy nhiên có những trường hợp rắn hoa cỏ cổ đỏ trở lên hung dữ và sẵn sàng tấn công bất cứ đối tượng nào có ý định xâm phạm chúng.

Rắn thường ăn cóc và ếch, đây cũng chính là những loại thức ăn yêu thích của chúng. Có một điểm đặc biệt là rắn cổ đỏ có vẻ như không gây ra quá nhiều mối nguy hiểm nghiêm trọng đối với các loài động vật máu nóng bởi loài rắn này có kích thước khá nhỏ bé trong khi hầu hết động vật máu nóng lại có kích thước quá to lớn so với chúng. Vì vậy, động vật máu lạnh mà đặc biệt là loài lưỡng cư như ếch giun, nhái, ếch đồng,…là mục tiêu săn mồi số 1 của rắn cổ đỏ.

Về sinh sản, rắn hoa cỏ cổ đỏ thường đẻ từ 5-17 quả trứng vào mỗi đợt và chúng thường mất khoảng 8 đến 10 tuần để ấp trứng. Con rắn cổ đỏ con thường có chiều dài giao động từ 13cm đến 19cm. Con non có màu sắc sặc sỡ và rõ nét hơn so với rắn trưởng thành.

Phân bố và môi trường sống của rắn cổ đỏ

Rắn cổ đỏ là loài rắn có tập tính hoạt động vào ban ngày và chúng thường được tìm thấy tại những nơi có đất thấp, có nhiều nước như trong rừng rú. Ngoài ra, loài rắn này còn có thể được tìm thấy tại vùng đồi núi có độ cao tới 1780m.

Tại Việt Nam, rắn cổ đỏ phân bố tại nhiều nơi và loài này được tìm thấy ở hầu hết tỉnh thành trải dài từ Cao Bằng cho tới Kiên Giang.

Trên thế giới, loài rắn hoa cỏ cổ đỏ này được tìm thấy tại các quốc gia như Trung Quốc, Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia, Malaysia.

Số lượng cá thể loài rắn này ở Việt Nam và trên thế giới còn khá nhiều. Tuy nhiên, rắn cổ đỏ vẫn được xếp vào danh sách các loài động vật cần được quan tâm và bảo vệ để phục vụ cho quá trình nghiên cứu về sinh thái cũng như tập tính và sản xuất huyết thanh kháng độc nhằm điều trị cho người bị loại rắn này cắn phải.

Rắn hoa cỏ cổ đỏ được mệnh danh là nữ hoàng bóng đêm
Rắn hoa cỏ cổ đỏ được mệnh danh là nữ hoàng bóng đêm

Nọc độc của rắn cổ đỏ

Trước kia, loài rắn cổ đỏ được cho rằng là loài rắn không có độc và rất nhiều người đã bắt loại rắn này về nuôi làm cảnh. Tuy nhiên, gần đây thì các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng loài rắn này không hề “hiền lành” như chúng ta vẫn tưởng và nó sở hữu một lượng lọc độc đủ mạnh để giết người. Trên thế giới, đây là loài rắn được xếp vào họ hàng rắn độc.

Có một đặc điểm rất đặc biệt đến mức “quái dị” là, tự thân loài rắn cổ đỏ này không sản xuất ra nọc độc mà lọc độc của chúng mang hoàn toàn là được tích lũy lại qua quá trình chúng ăn phải các loài động vật có độc (mà chủ yếu là các loài bò sát nhỏ ví dụ như cóc độc).

Điều đặc biệt này được tạo ra bởi lẽ rắn hoa cỏ cổ đỏ sở hữu các tuyến gọi là Nuchal – tuyến này có khả năng lọc và giữ lại các chất độc mà rắn cổ đỏ nuốt phải khi ăn phải các con cóc hoặc ếch độc. Tuyến Nuchal có tác dụng lưu trữ các loại nọc độc này và tổng hợp, chuyển hóa chúng thành nọc độc. Rắn hoa cỏ cổ đỏ sẽ dùng chính nọc độc này để phòng vệ khi nó bị tấn công hoặc đe dọa.

Như vậy, chính đặc tính tự lấy chất độc của con mồi để tổng hợp làm nọc độc của chính mình mà rắn cổ đỏ sở hữu đã khiến cho chúng là một trong những loài rắn đặc biệt nhất hành tinh. Đồng thời, loài rắn cổ đỏ này cũng được coi là một trong những kẻ săn mồi ám ảnh với các loài động vật khác, ngay cả khi chúng sở hữu chất kịch độc trong người để phòng vệ.

Rất nhiều trường hợp đã được ghi nhận bị loài rắn hoa cỏ cổ đỏ cắn với những triệu chứng rất nguy kịch đến mức nguy hiểm đến tính mạng. Điển hình là từ năm 1997 cho tới nay, bệnh viện Chợ Rẫy đã thống kê rằng có 24 trường hợp người bị rắn hoa cỏ nhỏ cổ đỏ tấn công. Nạn nhân khi bị rắn cổ đỏ cắn sẽ gặp phải các triệu chứng nghiêm trọng mà đặc biệt là rối loạn đông máu (tương tự như khi bị rắn lục cắn). Năm 2009 và năm 2011, Việt Nam ghi nhận có 2 ca tử vong do loài này cắn phải.

Trên thế giới hiện nay chưa tìm ra được huyết thanh có tác dụng kháng lại nọc độc do loài rắn này cắn phải. Vì vậy, khuyến cáo người dân đặc biệt là các bạn trẻ không nên bắt loài rắn này về làm cảnh, tránh nguy hiểm đến tính mạng.

Bài viết đã mô tả hình dáng, phân bố, tập tính và nọc độc của rắn cổ đỏ. Hy vọng những thông tin này sẽ đem lại nhiều kiến thức bổ ích về động vật hoang dã đến với bạn đọc.

Việc vận chuyển và buôn bán trái pháp luật các sản phẩm từ động vật hoang dã trong đó có ngà voi đang diễn ra rất phức tạp. Tình trạng này diễn ra ở nhiều nơi. Trong bài viết https://www.greenparty.org.uk/news/2017/10/06/keith-taylor-ivory/, Keith Taylor MEP, thành viên của Ủy ban Môi trường của Nghị viện Châu Âu và Phó Chủ tịch của Nhóm Phúc lợi Động vật kêu gọi phải hành động mạnh mẽ hơn để chấm dứt tình trạng này.

Con nhím biển là con gì? Gai của nhím biển có độc không?

Con nhím biển có tên khoa học là Echinoidea – một loài động vật sinh sống dưới biển trong ngành Động vật da gai. Loài động vật  này còn có tên gọi khác là cầu gai và nhum biển. Bạn đọc hãy tham khảo ngay bài viết để biết được đặc điểm, độc tố của cầu gai và cách xử lý tốt nhất khi bị chúng đâm vào cơ thể.

Hình ảnh con nhím biển
Hình ảnh con nhím biển

Con nhím biển là con gì?

Con nhím biển (cầu gai, con nhum biển) là một sinh vật sống ở dưới các đại dương. Chúng phân bố rộng khắp các vùng biển trên thế giới những tập trung nhiều nhất ở khu vực có khí hậu nhiệt đới.

Về đặc điểm bên ngoài, con nhím biển có hình dáng không khác nhiều so với loài nhím sống trên cạn khi cuộn tròn lại. Lớp vỏ của nhum biển có hình cầu và bên ngoài có rất nhiều gai nhọn. Chính vì thế, chúng còn được gọi với tên là cầu gai.

Đường kính cơ thể con nhím biển dao động từ 3 – 10cm và có một số cá thể có kích thước lớn hơn. Gai mọc của chúng mọc khá dày ở bên ngoài lớp vỏ với độ dài từ 3 – 5 cm. Màu sắc của nhum biển cũng rất đa dạng, chúng có thể có màu đen, nâu sẫm, tím hoặc trắng.

Phần thịt bên trong nhum biển khá ít và được gọi là trứng cầu gai. Phần trứng này thường được chia thành 5 – 8 cánh nhỏ phân bố đều bên trong cơ thể nhum biển với hình vòng cung. Trứng con nhím biển có màu vàng cam hoặc màu cam.

Ở bề mặt bên ngoài vỏ của con nhím biển có lỗ miệng và lỗ hậu môn giúp chúng ăn thức ăn và thải phân ra bên ngoài. Miệng cầu gai thường có 5 cái răng và xung quanh được bao bọc bằng nhiều mảnh xương nhỏ.

Cầu gai có di chuyển được không? Loài động vật này có thể di chuyển nhưng có tốc độ chậm. Dựa vào lực đẩy của dòng nước, con nhím biển sẽ xoay cơ thể để di chuyển.

Tập tính sinh thái của con nhím biển

Con nhím biển ăn gì? Thức ăn của cầu gai là thực vật, chủ yếu là rong biển và các loại tảo. Ngoài ra, một số loài nhum biển còn ăn động vật không xương sống như con hết, sao giòn, bọt biển hoặc giun tơ.

Cầu gai sinh sản theo hình thức hữu tính, cá thể đực và cái giao phối với nhau thông qua lỗ sinh dục. Mùa sinh sản của con nhím biển thường là từ tháng 5 đến tháng 9 dương lịch (tháng 3 đến tháng 7 âm lịch). Thời điểm này thịt của chúng sẽ thơm ngon nhất.

Nhum biển không sinh sống đơn lẻ mà thường tụ tập thành nhóm, bầy tạo nên các thảm sinh vật. Những khu vực xuất hiện nhiều nhím biển là các hốc, ghềnh đá, thảm rong và tảo ở các vùng biển ấm.

Ở Việt Nam, con nhím biển phân bố chủ yếu ở vùng biển của các tỉnh miền Trung như Cam Ranh, Nha Trang và Phú Quốc.

Trên thế giới có nhiều loại cầu gai khác nhau
Trên thế giới có nhiều loại cầu gai khác nhau

Theo thống kê, hiện nay trên thế giới có khoảng 580 loài nhím biển khác nhau. Các loài thường xuất hiện ở nước ta là:

  • Con nhím biển sọ (nhum sọ): Có kích thước khá lớn, gai mảnh, ngắn.
  • Nhím biển đen (con nhum đen): Thân có màu đen sậm, gai to và cứng.

Con nhím biển có độc không? Cách xử lý khi bị cầu gai đâm

Nhím biển có độc không?

Theo các nhà khoa học, phần thịt bên trong của nhím biển không hề chứa độc tố. Tuy nhiên, phần gai bên ngoài lại chứa nọc độc và bộ phận này chính là vũ khí để chống lại kẻ thù. Chúng thường phóng các gai về phía đối thủ để tự vệ.

 Do gai có chứa độc tố nên khi bị con nhím biển đâm hoặc giẫm phải gai của chúng thì chúng ta sẽ có biểu hiện bị nhiễm độc.

Trong trường hợp bị cầu gai đâm vào chân, nạn nhân sẽ cảm giác bị tê nhức ở vị trí đó. Nếu gai của nhum biển vẫn còn ở bên trong da thì có thể làm nhiễm trùng vết thương. Tuy nhiên, nếu gai được lấy ra ngoài thì độc tố của con nhím biển sẽ không gây nhiều nguy hại đến cơ thể.

Cách xử lý khi bị cầu gai đâm

Thông thường, khi tắm biển hoặc đi dạo trên bờ biển bạn có thể giẫm phải con nhím biển và gây tê nhức ở vết thương. Khi đó, bạn cần thực hiện các bước sau:

  • Kiểm tra xem bộ phận nào của con nhím biển đâm vào vết thương là gì. Nếu là vỏ của cầu gai thì không có độc, bạn có thể lấy ra ngoài và cầm máu.
  • Nếu là gai thì sẽ có độc tố và sau khi nhổ gai ra thì cần phải theo dõi biểu hiện của cơ thể. Trong trường hợp bị độc tố mạnh sẽ gây choáng, buồn nôn, vết thương sưng và đỏ hồng thì bạn nên đến bác sĩ để điều trị.
  • Để giảm các cơn đau nhức do độc tố của con nhím biển gây ra thì bạn có thể ngâm vết thương trong nước hoặc dấm ấm.
  • Bạn nên sử dụng oxy già để rửa vết thương, sau đó dùng nước sạch để rửa lại rồi băng vết thương. Bạn cũng có thể sử dụng thuốc giảm đau hoặc kháng sinh để giảm khả năng bị viêm nhiễm.
  • Trong trường hợp gai đâm sâu vào sụn khớp thì có thể phải phẫu thuật để lấy gai con nhím biển ra ngoài.
Gai của nhím biển có chứa độc tố
Gai của nhím biển có chứa độc tố

Tác dụng của con nhím biển

Cầu gai được coi là nhân sâm của biển và có rất nhiều lợi ích cho sức khỏe. Trong thịt của con nhím biển (trứng cầu gai) chứa rất nhiều chất khoáng tốt cho cơ thể như kẽm, canxi, sắt, chất béo và các loại vitamin. Các chất này để cần thiết cho sức khỏe và giúp phục hồi thể trạng rất tốt.

Chính vì thế, loài động vật này được săn bắt và chế biến thành các món ăn trong nhà hàng. Những các cách chế biến con nhím biển nổi tiếng là cầu gai nướng mỡ hành, nhum biển nướng hoặc ăn sống.

Vì có chứa nhiều chất dinh dưỡng và hương vị thơm ngon nên nhu cầu tiêu thụ loài động vật khá cao. Đồng nghĩa với trên thị trường, giá bán con nhím biển cũng không hề rẻ.

Trong quá trình thưởng thức món ăn từ con nhím biển, nếu cơ thể có biểu hiện dị ứng như nổi mẩn đỏ, ngứa ngáy thì bạn nên dừng lại. Trong trường hợp bị ngộ độc thịt cầu gai thì phải đến các cơ sở y tế để được điều trị.

Trên đây là những thông tin về đặc điểm, tập tính, tác dụng và độc tố của con nhím biển. Hy vọng qua bài viết này sẽ giúp bạn đọc có thêm những kiến thức bổ ích về loài động vật da gai này.

>> Tham khảo thêm: Cá koi bướm

Các hoạt động bảo vệ động vật hoang dã luôn nhận được sự quan tâm của xã hội. Hội nghị Iwt Hà Nội 2016 đã thu hút rất nhiều sự chú ý của cộng đồng quốc tế. Bạn đọc có thể tham khảo chi tiết thêm tại:

http://worldanimal.net/events/upcoming-events/37-events/433-november-2016

http://worldanimal.net/events/past-events

http://worldanimal.net/past-events

Gấu trúc ăn gì? Những thông tin thú vị về loài gấu trúc

Gấu trúc có danh pháp khoa học là Ailuropoda melanoleuca – một loài động vật khá dễ thương và được biết đến nhiều trong bộ phim hoạt hình nổi tiếng Kungfu Panda. Trong bộ phim này, Panda ăn khá nhiều loại thực phẩm khác nhau nhưng trong thực tế thì gấu trúc ăn gì và tại sao chúng ăn ít mà vẫn “béo phì”? Hãy cùng tìm hiểu những điều thú vị này qua bài viết dưới đây.

Hình ảnh đáng yêu của gấu trúc trong tự nhiên
Hình ảnh đáng yêu của gấu trúc trong tự nhiên

Gấu trúc ăn gì?

Gấu trúc là một loài động vật thuộc họ gấu (Ursidae) và có nguồn gốc từ Trung Quốc. Chúng phân bố chủ yếu ở vùng Tứ Xuyên, Cam Túc và đôi khi cũng xuất hiện ở Thiểm Tây. Đặc điểm nhận biết dễ dàng nhất của loài gấu này là các mảng màu đen ở mắt, 2 tai và tứ chi.

Tên gọi gấu trúc cũng bắt nguồn từ tập tính chúng sinh sống ở các rừng trúc và ăn lá trúc, tre. Chúng thường sống đơn độc và dành phần lớn thời gian đi lang thang trong trong các rừng trúc, tre ở vùng đồi núi Tân Lĩnh.

Tuy là một loài trong bộ ăn thịt (Carnivora) nhưng thức ăn chủ yếu của gấu trúc có tới 99% là lá tre và lá trúc.

Ngoài ra, những cá thể gấu trúc sống trong môi trường tự nhiên đôi khi cũng ăn củ, cỏ dại hoặc thịt chim, động vật gặm nhấm, xác thối.

Trong điều kiện nuôi nhốt ở những vườn thú, loài gấu này có thể ăn mật ong, cá trứng và các loại hoa quả như cam, chuối và một số loại thức ăn khác.

Theo các nhân viên của vườn thú Atlanta của Mỹ, gấu trúc là một loài khá kén chọn đồ ăn và thường thay đổi theo từng khoảng thời gian khác nhau trong năm. Có khi chúng ăn một loại lá trúc, lá tre, cỏ trong cả một tuần nhưng sau đó lại không ăn loại thức ăn đó nữa.

Các loại thức ăn cho gấu trúc cũng phải luôn tươi và non. Chúng sẽ quay đi và không ăn nếu lá trúc, tre già héo và thân cây bị bạc màu. Vì vậy, vườn thú phải có một đội chuyên đi kiếm các loại lá trúc, tre và cỏ dại khác nhau để phục vụ nhu cầu ăn uống của những chú Panda khó tính.

Gấu trúc ăn gì mà vẫn to béo?
Gấu trúc ăn gì mà vẫn to béo?

Tại sao gấu trúc ăn ít nhưng vẫn to béo?

Các chuyên gia nghiên cứu về loài gấu trúc vẫn đang nỗ lực tìm câu trả lời về việc hệ tiêu hóa của gấu trúc có cấu tạo của động vật ăn thịt những chúng chủ yếu ăn thực vật (99% là tre và trúc). Đặc biệt, chúng ăn không nhiều nhưng lại vẫn to lớn và “béo phì”.

Các nhà khoa học tại Viện Động vật học ở Bắc Kinh đã theo dõi và nghiên cứu tập tính ăn uống của gấu trúc trong 6 năm và có được những câu trả lời về vấn đề khá thú vị này.

So với những loài động vật có kích thước lớn tương đương, gấu trúc chỉ tiêu thụ lượng năng lượng khoảng 36%. Điều này nghĩa là cá thể gấu trúc có trọng lượng 90% chỉ cần chưa đến một nửa năng lượng tiêu thụ của một người nặng tương đương để hoạt động hàng ngày.

Những chuyên gia cũng theo dõi về việc vận động của loài gấu này, chúng là loài “lười di chuyển” nhất trong những động vật có cùng kích thước. Các cá thể nuôi nhốt chỉ dành ⅓ khoảng thời gian trong ngày để vận động cơ thể nhẹ nhàng. Trong khi đó, gấu trúc hoang thì tích cực hoạt động hơn một chút khi dành ½ thời gian trong ngày để đi lang thang và tìm thức ăn.

Ngoài ra, cơ thể gấu trúc có tốc độ trao đổi chất chậm chạp là một trong những nguyên nhân góp phần duy trì hình dáng béo phì của chúng. Các cá thể trưởng thành thường di chuyển khá chậm và uể oải. Đồng thời, chúng còn ngủ đông để duy trì thân nhiệt và hạn chế quá trình trao đổi chất.

Như vậy, có thể nói gấu trúc là một loài động vật “vừa béo vừa lười lại vô dụng”. Điều này cũng làm nên dáng vẻ đáng yêu của loài động vật thuộc họ gấu này. Chúng hoàn toàn khác biệt với con cheo cheo bé nhỏ cực kỳ nhanh nhẹn.

Gấu trúc là một loài động vật "vừa béo vừa lười"
Gấu trúc là một loài động vật “vừa béo vừa lười”

Một số điều thú vị khác về gấu trúc

Ngoài là một loài động vật khó tính trong ăn uống và khá lười vận động thì gấu trúc có rất nhiều điểm thú vị khác, cụ thể là:

  • Trước khi chuyển sang “ăn chay”, khoảng 2 triệu năm về trước gấu trúc là một loài ăn thịt.
  • Gấu trúc có màu trắng để dễ dàng ẩn nấp trong tuyết khi kiếm ăn vào mùa đông. Các đốm và chân màu đen cũng giúp chúng ẩn náu trong bóng râm của rừng trúc, rừng tre. Tai màu đen để cảnh báo kẻ thù. Đốm đen ở mắt để giúp chúng giao tiếp với nhau.
  • Do tính cách hiền lành và hình dáng rất đáng yêu nên gấu trúc được Trung Quốc lựa chọn là đại sứ thiện chí. Chúng chiếm được tình cảm của rất nhiều người trên thế giới và nâng cao hình ảnh của quê hương.
  • Gấu trúc trong tự nhiên sinh sống chủ yếu ở vùng Thiểm Tây. Nhưng loài gấu này xuất hiện ở rất nhiều vườn thú ở các nước trên thế giới vì chúng là quà tặng ngoại giao.
  • Là một loài vật đáng yêu nên gấu trúc cũng xuất hiện nhiều trong các bộ phim, đặc biệt là các thể loại dành cho thiếu nhi. Nổi tiếng nhất là seri phim Kungfu Panda.

Ngày nay, do quá trình đô thị hóa và biến đổi khí hậu nên số lượng loài động vật này cũng bị suy giảm. Gấu trúc đã được liệt kê vào nhóm động vật bị đe dọa của Sách Đỏ IUCN. Do đó, chúng ta cần có những biện pháp để bảo vệ loài động vật này.

Việc bảo vệ các loài động thực vật hoang dã, chống lại tình trạng buôn bán, khai thác trái phép đang rất được quan tâm. Bạn đọc có thể tham khảo các thông tin liên quan về bảo tồn và bảo vệ những loài động vật hoang dã tại: http://biz.gzw.net/2016/1121/1210523.shtml

Trên đây là lời giải đáp về câu hỏi gấu trúc ăn gì và những thông tin thú vị xoay quanh loài động vật đáng yêu này. Qua bài viết, hy vọng bạn đọc sẽ có thêm nhiều thông tin bổ ích về thế giới động vật.

Con rạm: Đặc điểm, tập tính, công dụng và kỹ thuật nuôi hiệu quả

Con rạm có danh pháp khoa học là Varunidae – một loài thuộc họ Cua, ngành động vật chân đốt. Chúng còn được biết đến với tên gọi khác như con đam hay rạm đồng. Hãy cùng tìm hiểu chi tiết về mô tả đặc điểm, tập tính và kỹ thuật nuôi rạm đem lại hiệu quả kinh tế cao qua bài viết này.

Hình ảnh con rạm
Hình ảnh con rạm

Con rạm là gì? Đặc điểm hình dạng của rạm

Rạm là một loài động vật cùng họ với cua, kích thước của chúng tương đương với cua đồng. Tuy nhiên, con rạm có mình dẹt hơn cua đồng.

Mai của con rạm khá cứng và có màu xanh xám giống như màu của đá. Viền của mai không có gai như cua đồng. Dưới mai có nhiều gạch màu vàng hoặc vàng đậm.

Cũng giống như các loài trong họ cua, rạm cũng có 2 càng lớn và 8 chân. Tuy nhiên, chân của con rạm dài và dẹp hơn cua đồng. Mỗi chân có 3 đốt, ở đốt chân cuối cùng của rạm thường dẹp khá ngắn và không có lông.

Phần bụng của rạm thường có màu trắng hoặc vàng và có bộ phận sinh sản thường được gọi là yếm. Đây là bộ phận dùng để phân biệt rạm cái và rạm đực. Những con rạm cái thường có yếm to, chiếm gần hết phần bụng. Còn rạm đực thì yếm khá nhỏ ở chính giữa bụng.

Rạm trưởng thành thường có mai dài khoảng 3 – 4cm. Cá thể rạm đực thường có kích thước nhỏ hơn cá thể cái.

Tập tính sinh sống của con rạm

Rạm là một loài khá phổ biến ở các vùng sông gần cửa biển ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ nước ta như Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa,…

Chúng là một loài giáp xác sinh sống ở vùng nước lợ, gần các cửa sông, lạch. Con rạm thích sống ở những cánh đồng trũng, có nhiều nước.

Cũng giống như cua đồng, rạm thường đào hang ở ven bờ hoặc đất ruộng mềm. Tuy nhiên, hang của chúng nông hơn, thường chỉ sâu khoảng 3 – 5cm. Khi nước ngập cửa hang thì con rạm sẽ bò ra ngoài và không trú ẩn trong hang. Con rạm có tính cách hiền hơn cua đồng, chúng ít khi dương càng lên để tấn công đối thủ.

Mùa sinh sản là mồng 1 hoặc rằm tháng 4 – 5 âm lịch (tháng 5 – 6 dương lịch), con rạm sẽ di chuyển về phía các cửa sông nước lợ để kết đôi và sinh sản. Các con rạm non sẽ trú ẩn ở trong yếm của con cái cho đến khi chúng có thể bò ra ngoài. Khi rạm con to bằng đầu que diêm (rạm cốm) thì chúng sẽ di chuyển về các cánh đồng để sinh sống và tiếp tục vòng đời.

Thức ăn của con rạm là các loài động vật giáp xác, ốc, cá nhỏ và thực vật phù du như tảo, rong rêu. Rạm sẽ sử dụng hai càng để bắt và đưa thức ăn vào miệng.

Rạm sống ở vùng nước lợ, cửa sông
Rạm sống ở vùng nước lợ, cửa sông

Tác dụng của con rạm trong đời sống

Trong rạm có nhiều chất dinh dưỡng rất tốt cho sức khỏe con người như vitamin B1, B2,… các khoáng chất như Photpho, Lipid, Canxi, sắt (Fe) và chứa rất nhiều đạm. Chính vì vậy, rạm được coi là món ăn bổ dưỡng và có tác dụng chữa bệnh rất tốt.

Sử dụng rạm để chữa bệnh

Theo Đông y, con rạm có mùi tanh, thịt mặn giúp bồi bổ khí huyết, lưu thông kinh mạch và cung cấp nhiều dưỡng chất. Vì thế, rạm được sử dụng để hỗ trợ điều trị một số vấn đề về sức khỏe như sau:

  • Cung cấp canxi để thúc đẩy quá trình tái tạo xương khớp, điều trị bệnh còi xương ở trẻ em và chứng loãng xương ở người lớn.
  • Thịt của con rạm cũng giúp cải thiện chứng thận yếu và yếu sinh lý.
  • Hỗ trợ điều trị các bệnh huyết ứ, đau tức ngực và sườn.
  • Cải thiện giấc ngủ, giảm chứng đau đầu ở người lớn tuổi.

Dùng con rạm để chế biến món ăn

Món ăn từ rạm không phải là đặc sản vùng miền tuy nhiên luôn có sức cuốn hút đối với mọi người. Thịt của rạm béo ngậy, ngọt, mai mềm, ăn giòn và có nhiều gạch hơn cua đồng khiến cho các món ăn từ rạm được rất nhiều người yêu thích.

Để chế biến các món ăn từ con rạm, bạn cần chọn những con to, khỏe mạnh, mai bóng và có màu tươi sáng. Phần bụng đầy đặn, khi nắn vào mai và yếm thì phải cứng cáp, không bị mềm. Các bà nội trợ nên mua rạm vào ngày mồng 1 hoặc rằm vì đó là thời điểm rạm ngon nhất. Dưới đây là một số món ăn thơm ngon và bổ dưỡng từ con rạm

Món canh rạm

Cũng như canh cua, canh rạm là một món ăn ưa thích của rất nhiều người, đặc biệt là vào mùa hè nóng bức.

Chuẩn bị nguyên liệu:

  • 1 bó rau đay hoặc rau mồng tơi.
  • 1 trái mướp
  • Khoảng 200g con rạm.
  • Các gia vị muối, hạt nêm,…

Cách làm:

  • Rửa sạch rạm, lột phần mai và yếm dưới bụng. Dùng tăm để lấy phần gạch để vào bát. Cho phần thịt của con rạm vào giã hoặc xay nhuyễn rồi lọc lấy nước.
  • Rau rửa sạch thái nhỏ, mướp bỏ vỏ thái mỏng.
  • Cho phần nước và gạch của con rạm vào nồi, đun nhỏ lửa cho đến khi sôi rồi cho rau và mướp vào nấu đến khi chín. Lưu ý, trong quá trình nấu canh thì khuấy nhẹ để không làm vỡ riêu.
  • Nêm nếm gia vị cho vừa miệng rồi tắt bếp.

Rạm rang muối

Con rạm rang muối là món ăn không còn xa lạ với nhiều người và thực hiện rất đơn giản.

Chuẩn bị:

  • 500g rạm ngon
  • Muối và các gia vị

Thực hiện:

  • Rạm rửa sạch, có thể vặn bỏ phần chân và bỏ yếm
  • Cho các gia vị muối, hạt nêm vào ướp khoảng 10 phút.
  • Đem đun đến khi gần hết nước thì đảo liên tục cho đến khi con rạm khô hoàn toàn.

Với món ăn này, bạn có thể ăn cả con rạm, phần gạch có thể lấy ra trộn với cơm cũng đem lại hương vị tuyệt vời.

Con rạm có nhiều lợi ích trong cuộc sống
Con rạm có nhiều lợi ích trong cuộc sống

Kỹ thuật nuôi rạm đem lại hiệu quả kinh tế cao

Ở các vùng nước lợ, con rạm trong tự nhiên thường được khai thác vào mùa hè. Tuy nhiên, do nhu cầu ngày càng cao và môi trường sống ngày càng bị thu hẹp dẫn đến giảm số lượng loài, nhiều nơi đã áp dụng kỹ thuật nuôi rạm để cung cấp quanh năm.

Sau đây là kinh nghiệm nuôi con rạm đem lại hiệu quả cao:

  • Sau mùa gặt lúa kết thúc, người nuôi phải hút cạn phần nước trong ruộng rồi rắc vôi bột lên bề mặt đất với tỷ lệ là 10kg/100 mét vuông. Phơi đất ruộng trong khoảng 3 – 4 ngày.
  • Ruộng nuôi con rạm nên đắp các mô đất cao để chúng có thể tạo hang ẩn nấp và khi lột xác thì chúng lại di chuyển đến chỗ thấp nhiều nước.
  • Bơm nước vào ruộng đến khi ngập khoảng 0.3 – 0.6m.
  • Dùng phân bón gây màu nước với tỷ lệ 25kg/100 mét vuông.
  • Khi đủ điều kiện về mặt ruộng và nước thì có thể thả con rạm giống với tỷ lệ 20con/m2.
  • Thức ăn cung cấp cho rạm hàng ngày là các loại cá, ốc xay nhỏ trộn với men vi sinh rồi ủ trong khoảng 3 ngày. Thời gian cho con rạm ăn là sáng sớm và chiều muộn khi thời tiết mát mẻ.
  • Trong quá trình nuôi thì cần chú ý đến độ pH trong nước để đảm bảo môi trường sống tốt nhất cho con rạm phát triển.
  • Thời điểm thu hoạch rạm tốt nhất là sau khoảng 4 – 5 tháng nuôi, trọng lượng của chúng đạt khoảng 40 – 50 con/kg. Nên thu hoạch vào ngày mồng 1 hoặc ngày rằm vì thời gian này rạm có thịt chắc và nhiều gạch.

Hiện nay, giá bán con rạm giao động từ 100.000 – 150.000VNĐ mỗi kg. Nuôi rạm hứa hẹn sẽ giúp cải thiện kinh tế của nhiều hộ gia đình làm nông ở vùng nước lợ, gần cửa sông lạch.

Trên đây là những thông tin chi tiết đặc điểm, tập tính và kỹ thuật nuôi con rạm. Hy vọng, qua bài viết này bạn đọc sẽ có thêm nhiều kiến thức về loài động vật giáp xác nhỏ bé nhưng rất quen thuộc này.

>> Xem thêm: Hà mã ăn gì

Những hoạt động bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên luôn được xã hội quan tâm. Trong bài viết https://www.tralac.org/news/article/10848-new-analysis-shows-scale-of-international-commitment-to-tackle-illegal-wildlife-trade-over-1-3-billion-since-2010.html đã nêu ra số tiền được các nhà tài trợ cho các dự án chống buôn bán, tiêu thụ động vật hoang dã bất hợp pháp từ năm 2010 đến 2016 là 1.3 tỷ USD. Ngoài tài trợ của các tổ chức, chúng ta vẫn cần phải chung tay để chấm dứt tình trạng này.

Con cà ra: Đặc điểm, sinh sản và tác động đến môi trường

Con cà ra (cua lông) có tên khoa học là Eriocheir sinensis – một loài cua nước ngọt trong hệ cua đồng có nguồn gốc Phúc Kiến, Trung Quốc và đã du nhập vào Việt Nam, Châu Âu và Bắc Mỹ. Qua bài viết dưới đây, hãy cùng tìm hiểu về đặc điểm sinh thái, tập tính sinh sản và những tác động đến môi trường của loài cua này.

Hình ảnh con cà ra
Hình ảnh con cà ra

Mô tả đặc điểm sinh thái của con cà ra

Về ngoại hình thì con cà ra khá giống với cua đồng hoặc con rạm nhưng có kích thước to hơn rất nhiều. Kích thước trung bình của chúng to bằng lòng bàn tay người lớn.

Cà ra là một loài có đặc điểm hình dáng khá kỳ lạ với đôi càng màu xanh có khoang đỏ với kích thước khá giống nhau. Chân con cà ra dài gấp đôi kích thước của mai cua.

Phần mai của con cà ra có màu xanh nhạt hoặc xanh xám với chiều dài khoảng 3 – 10cm. Phần bụng có màu vàng.

Tuy là một loài thuộc hệ cua đồng nhưng đặc điểm sinh thái của con cà ra lại khác hoàn toàn. Cua đồng có thói quen sinh sống trong hang ở bờ ruộng, kênh rạch và chỉ bò ra ngoài khi kiếm ăn rồi lại trốn trong hang. Tuy nhiên, cua Trung Quốc lại không sống trong hang mà lại bò ở khu vực chúng sinh sống.

Con cà ra dành phần lớn cuộc đời để sinh sống ở vùng nước ngọt và nước lợ. Các khu vực cửa sông nước lợ, vùng nước ấm và dòng chảy chậm là nơi mà loài động vật này thường phát triển mạnh.

Tập tính của con cà ra

Mặc dù đây là một loài cua nước ngọt và dành thời gian chủ yếu của cuộc đời để sống ở nước ngọt nhưng chúng lại sinh sản ở vùng nước mặn. Mùa sinh sản của và ra là vào cuối tháng 8 hàng năm và con cà ra bắt đầu di cư ra biển, cách xa khu vực sinh sống. Các cá thể đực sẽ đến trước con cái.

Khi trứng xuất hiện thì con cà ra cái sẽ bắt đầu di chuyển ra các cửa sông để giao phối. Trứng sẽ được chứa ở yếm dưới bụng giống như các loài cua khác. Một con cái có thể chứa 250.000 đến 1 triệu trứng.

Ấu trùng sẽ nở ra từ trứng vào mùa hè và sẽ trôi dạt về các vùng nước lợ và nước ngọt. Con cà ra cái thường sẽ chết sau khi sinh sản vì kiệt sức.

Cà ra phát triển rất nhanh ngoài tự nhiên
Cà ra phát triển rất nhanh ngoài tự nhiên

Vòng đời của con cà ra bao gồm:

  • Giai đoạn trứng: Trứng tồn tại dưới yếm của cua cái và cần muối tinh khiết để nở.
  • Ấu trùng: Khi nở ra từ trứng ở vùng nước nợ.
  • Ấu trùng di chuyển từ nước lợ sang nước ngọt và phát triển thành megalopa.
  • Megalopa phát triển thành con cà ra trưởng thành.

Ấu trùng con cà ra chủ yếu ăn động, thực vật phù du, lớn hơn một chút thì chúng ăn các thực vật thủy sinh.

Các cá thể cà ra trưởng thành là một loài động vật ăn tạp. Thức ăn chủ yếu của chúng là thực vật, động vật không xương sống và mảnh vụn của cá.

Con cà ra tác động đến môi trường như thế nào?

Loài sinh vật này lan truyền rất nhanh từ Trung Quốc sang Châu Âu, Bắc Mỹ và cũng đã du nhập vào Việt Nam. Ở Anh, con cà ra xuất hiện nhiều ở sông Thame, ở Mỹ loài động vật này có mặt ở nhiều vùng khác nhau trong đó có Ngũ Hồ.

Con cà ra phát triển rất nhanh ở những nơi chúng xuất hiện và gây ảnh hưởng không nhỏ đến hệ sinh thái ở khu vực đó. Cua cà ra có thể làm hỏng kè sông, tắc nghẽn hệ thống thoát nước và tấn công thảm thực vật và động vật bản địa.

Loài động vật này được cho là gây hại đối với hệ sinh thái nơi chúng xuất hiện
Loài động vật này được cho là gây hại đối với hệ sinh thái nơi chúng xuất hiện

Ở Đức, con cà ra phá hủy lưới đánh cá của người dân địa phương, làm tổn thương các loài cá bản địa, làm hỏng đập và kè sông gây ra thiệt hại khá lớn.

Chính vì gây hại cho hệ sinh thái bản địa nên con cà ra được coi là loài xâm lấn ở nhiều nơi. Việc nhập khẩu, vận chuyển hoặc sở hữu cua cà ra là bất hợp pháp. Ở Việt Nam, Bộ Khoa học Công nghệ đã đề nghị đưa chúng vào loài có nguy cơ xâm hại.

Do sự phong phú, tỷ lệ sinh sản cao và khả năng chịu đựng thay đổi về môi trường tốt nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc hạn chế sự phát triển của loài cua này. Có nhiều biện pháp được đưa ra như khuyến khích người dân bắt con cà ra, dựng hàng rào ngăn cản chúng di chuyển, đặt bẫy,…nhưng đem lại hiệu quả khá thấp.

Ở Trung Quốc, con cà ra được coi là một món ngon trong ẩm thực Thượng Hải và miền đông Trung Quốc. Đặc biệt là các con cua cái có trứng thì giá trị càng cao. Người Trung Quốc tin rằng thịt cua có thể làm mát cơ thể. Chính vì thế chúng có giá trị khá cao ở đây. Để chống lại sự lây lan của loài động vật này ở các nước Châu Âu, có nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu săn bắt và cung ứng cua cho thị trường Trung Quốc.

Trên đây là những thông tin về đặc điểm, tập tính và những ảnh hưởng đến hệ sinh thái của con cà ra. Hy vọng qua bài viết  này bạn đọc sẽ có thêm nhiều thông tin bổ ích về loài động vật này.

Bạn đọc có thể tham khảo về những thông tin liên quan đến bảo tồn động vật hoang dã tại: https://ceo.ca/@newswire/independent-panel-confirms-that-immediate-action-by. Để ngăn chặn những hoạt động buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã cần phải có những biện pháp xử lý mạnh mẽ hơn và sự chung tay của tất cả mọi người.