Bệnh vảy nến là gì? Nguyên nhân, triệu chứng và cách chữa từ chuyên gia

Vảy nến là một bệnh lý da liễu mãn tính, gây ảnh hưởng cực lớn đến tâm lý và chất lượng sống của người bệnh. Tìm hiểu về nguyên nhân, dấu hiệu, cách phòng ngừa và điều trị bệnh vảy nến trong bài viết sau.

Bệnh vảy nến là gì?

Bệnh vảy nến (vẩy nến) có tên khoa học là Psoriasis – một bệnh da liễu mãn tính rất phổ biến và có đặc trưng là rất dễ tái phát nhiều lần.

Vảy nến là căn bệnh đã được biết đến từ thời thượng cổ và có người đã ví von rằng căn bệnh này là “một nỗi khốn khổ của loài người” bởi lẽ nó làm cho người bệnh luôn cảm thấy xấu hổ, ngại tiếp xúc với mọi người và đôi khi là cảm thấy sợ chính bản thân họ. Có người bệnh vảy nến đã tự mô tả mình là người mang các vảy da màu trắng bạc luôn bong ra liên tục.

Đây là căn bệnh có thể xảy ra với mọi lứa tuổi, không phân biệt giới tính. Bệnh cũng có thể xuất hiện ở mọi vùng da trên cơ thể, nhiều nhất là ở da đầu. Thậm chí, có nhiều người bị vảy nến toàn thân rất nguy hiểm và khó chữa trị.

Tại Việt Nam cũng như nhiều nước khác ở châu Âu hay châu Mỹ, tỷ lệ người mắc bệnh vảy nến có thể chiếm đến 2% trong tổng dân số, sự chênh lệch của số người mắc có thể khác nhau tùy khu vực và điều kiện sống.

Bệnh vảy nến là gì? Nguyên nhân, triệu chứng và cách chữa từ chuyên gia

    Hình ảnh bệnh vảy nến

Vảy nến có nguy hiểm không?

Theo PGS. TS. Trần Hậu Khang, vảy nến là một bệnh không lây, không gây nguy hiểm đến tính mạng của người bệnh.

Tuy nhiên, đây lại là một bệnh dai dẳng, khó chữa do tiến triển lâu dài thành nhiều đợt. Bản thân vảy nến là một bệnh mãn tính, nó có thể ổn định và khỏi trong một thời gian sau khi được điều trị và kiêng khem đúng cách. Nhưng một khi người bệnh không duy trì chế độ điều trị và sinh hoạt thì bệnh lại tái phát trở lại.

Vì thế, trong điều trị vảy nến, người bệnh cần phải phối hợp chặt chẽ với thầy thuốc để tìm ra phương pháp điều trị tối ưu nhất.

Ngoài ra, người bệnh cũng cần lưu ý rằng vảy nến không phải là một bệnh ngoài da đơn thuần mà nó là một bệnh lý toàn thân, có liên quan đến tim mạch, tình trạng gan nhiễm mỡ, cân nặng hay các bệnh sinh ra do rối loạn chuyển hóa.

Nguyên nhân gây bệnh vảy nến

Mặc dù bệnh vảy nến được biết tới từ lâu và đã có rất nhiều nghiên cứu khoa học về nó, nhưng nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh của vẩy nến vẫn chưa được sáng tỏ hoàn toàn.

Nhiều năm trở lại đây, nhiều nhà khoa học đã đưa ra các luận điểm về việc bệnh vảy nến xuất phát từ tình trạng rối loạn miễn dịch, yếu tố di truyền do gen và nhiều yếu tố khác tác động. Cụ thể:

  • Yếu tố di truyền: Là nguyên nhân gây vảy nến chiến đến 29,8% (thống kê theo Bolgert) trong tổng số nguyên nhân. Trong đó, gen gây bệnh nằm trên nhiễm sắc thể số 6 và gen này sẽ bị kích hoạt gây bệnh dưới nhiều yếu tố tác động như căng thẳng thần kinh, nhiễm khuẩn, nghiện rượu hay do chấn thương cơ học.
  • Căn thẳng, stress: Là yếu tố tác động đến việc kích hoạt bệnh bùng phát và trầm trọng thêm. Các nhà khoa học cũng lưu ý rằng người bệnh vảy nến thường có xu hướng lo lắng quá mức hoặc dễ bị kích thích.
  • Nhiễm khuẩn: Liên cầu khuẩn cùng nhiều yếu tố nhiễm khuẩn khu trú khác có mối liên quan mật thiết đến quá trình phát triển của bệnh. Ngoài ra, bệnh có thể do một số loại virus, virus ARN có men sao mã ngược tạo ra các phức hợp miễn dịch bất thường gây ra.
  • Chấn thương ngoài da: Chấn thương cơ học vật lý, tạo điều kiện cho các yếu tố tấn công gây bệnh vảy nến là nguyên nhân chiếm đến 14%.
  • Tình trạng rối loạn chuyển hóa: Thường là rối loạn chuyển hóa đạm hoặc đường.
  • Rối loạn nội tiết tố ở phụ nữ: Khi nội tiết tố bị rối loạn rất dễ gây ra các bệnh về da như vảy nến, viêm da cơ địa hay nổi mề đay.

Bệnh vảy nến là gì? Nguyên nhân, triệu chứng và cách chữa từ chuyên gia

    Nguyên nhân gây bệnh vảy nến

Triệu chứng bệnh vảy nến

Bệnh vảy nến đặc trưng bởi các đặc điểm sau:

  • Tổn thương trên da: Khi bị vảy nến, bề mặt da xuất hiện các vệt màu đỏ, bên trên bề mặt có phủ một lớp vảy màu trắng đục như màu xà cừ. Cạy vảy ra thấy lớp sừng dày với nhiều lớp xếp chồng lên nhau, dễ bong tương tự như giọt nến, cạo vụn thì như phấn trắng rơi lả tả. Vảy này hình thành rất nhanh, cứ bong hết lớp này thì lại đùn lên lớp khác và số lượng vảy rất nhiều.
  • Kích thước của các vết tổn thương do vảy nến có kích cỡ khác nhau tùy vùng da, giao động trong khoảng 1-20cm (đường kính) hoặc có thể lớn hơn.
  • Vị trí tổn thương: Bệnh có thể xuất hiện khắp toàn thân, ban đầu thường bùng phát tạo các vùng da hay cọ xát như khuỷu tay, mông, đầu gối, vùng da xương cùng hoặc rìa tóc.
  • Móng: Có đến 40% người bệnh vảy nến biểu hiện bệnh qua móng tay, chân. Đặc trưng là móng tay, chân có màu vàng đục, xuất hiện nhiều chấm rỗ trên bề mặt, móng thường dày nhưng dễ mủn và gãy.
  • Viêm khớp: Tùy từng thể bệnh mà tình trạng tổn thương tại khớp cũng khác nhau. Thông thường, có khoảng 2% người bệnh có tổn thương khớp (tại gối, cột sống) ở vảy nến thể nhẹ (chỉ có tổn thương da khu trú). Trong khi đó, gần 20% người bệnh bị cứng khớp, biến dạng khớp, viêm khớp mãn tính, đi lại khó khăn… nếu mắc bệnh nặng.

Phân loại bệnh vảy nến

Bệnh vẩy nến được phân chia theo các biểu hiện của bệnh hoặc theo từng bộ phận trên cơ thể.

Phân loại theo dạng bệnh

  • Vảy nến thể mảng bám: Chiếm 90% trường hợp mắc bệnh. Thể này đặc trưng bởi các triệu chứng khô da, vùng da tổn thương đỏ, vùng da tổn thương có vảy bạc dễ bong. Thể này gây ra các tổn thương ở vùng da khuỷu tay, da đầu, đầu gối, vùng da bên dưới cơ thể (bộ phận sinh dục), hoặc cũng có khi là bất cứ vùng da nào, ngay cả bên trong miệng cũng có thể có tổn thương.
  • Vảy nến thể tròn: Đây là một dạng hiếm gặp với đặc trưng là các vùng da thương tổn có hình tròn to nhỏ khác nhau.
  • Vảy nến thể mủ: Tình trạng bệnh này rất nghiêm trọng, đặc trưng bởi các nốt mụn mủ trên da. Khi mụn mủ bị vỡ gây chảy mủ, hình thành các tổn thương màu đỏ trên da.
  • Vảy nến thể đốm: Bệnh xuất hiện sau một đợt nhiễm khuẩn, các tổn thương lan rộng khắp cơ thể, có các lớp vảy nhỏ màu đỏ trên tổn thương.
  • Vảy nến thể nghịch (vảy nến da tiết bã): Là thể bệnh được tìm thấy trong những nếp gấp, nếp nhăn trên cơ thể người bệnh. Đặc trưng thường thấy là vùng da tổn thương có xu hướng tiết bã nhờn và ẩm ướt, gây khó chịu cho người bệnh và thường không có hiện tượng bong tróc như các thể khác.

Bệnh vảy nến là gì? Nguyên nhân, triệu chứng và cách chữa từ chuyên gia

    Hình ảnh bệnh vảy nến thể mủ

Phân loại vảy nến theo bộ phận trên cơ thể

  • Vảy nến bàn tay, bàn chân: Là thể vẩy nến hình thành trên da bàn tay và bàn chân. Đặc trưng của thể này là việc xuất hiện các lớp da khô dày dạng vảy bạc trên các vùng da này.
  • Vảy nến móng tay: Có khoảng 5% người bệnh mắc. Căn bệnh này có thể là một triệu chứng của tất cả các thể vảy nến khác. Đặc trưng của thể này là trên móng tay, chân hình thành các đốm màu vàng trên nền móng trắng. Lâu dần, lớp sừng móng có sự tách biệt ra khỏi đầu ngón cùng hiện tượng giòn móng, dễ gãy.
  • Vảy nến viêm khớp: Theo thống kê, có khoảng 5-7% người bệnh mắc thể này. Ngoài ra, người bệnh vẩy nến móng hoặc mụn mủ sẽ có tỷ lệ mắc cao hơn. Tình trạng viêm khớp khiến người bệnh bị cứng, sưng đau khớp, đặc biệt là vào sáng sớm khi ngủ dậy.
  • Vẩy nến toàn thân: Là thể rất phổ biến, nó khiến người bệnh bị ngứa ngáy và đau rát như lột da do tình trạng viêm, phát ban đỏ và các vùng tổn thương bao trùm toàn thân. Người bệnh có thể bị ớn lạnh, thân nhiệt thất thường, mất nước, viêm phổi, mất protein, nhiễm trùng… rất nguy hiểm. Cơ chế kích hoạt thể vảy nến này có thể do da bị cháy nắng nghiêm trọng, tác dụng phụ của việc điều trị hóa trị liệu hoặc do bệnh ở một bộ phận nhưng không được chữa trị tốt.
  • Bệnh vảy nến da đầu: Đây là bộ phận có tỷ lệ người mắc bệnh lớn nhất. Việc các biểu hiện của bệnh sẽ xuất hiện ở dưới chân tóc gây ngứa ngáy và rất khó điều trị.

Cách chẩn đoán bệnh vảy nến

Khám lâm sàng

  • Vị trí trên cơ thể bị bệnh phổ biến nhất là da đầu (chiếm đến 51% – Nghiên cứu của Huriez), kế tiếp là các vùng da bị tỳ đè như cùi tay, vùng đầu gối hay vùng da xương cùng)
  • Tổn thương do vảy nến có thể khu trú trong một vùng hoặc mọc rải rác tại nhiều vùng da khắp cơ thể.
  • Tổn thương có tính chất đối xứng và tổn thương ở vùng da mặt duỗi thường nhiều hơn ở vùng da mặt gấp.

Nhận biết các tổn thương do bệnh vảy nến

  • Tổn thương điển hình nhất của bệnh vảy nến là vùng da bị đỏ và có vảy. Mảng tổn thương có kích thước từ vài milimet đến vài centimet hoặc chục centimet.
  • Các mảng tổn thương có giới hạn rõ ràng, hơi gồ lên so với da, sờ vào thấy cộm cứng, thâm nhiễm nhiều hoặc ít. Ngoài ra, một số trường hợp có vảy trắng bao phủ gần như toàn bộ nền da đỏ và chỉ còn một chút viền đỏ bao xung quanh rộng hơn lớp vảy.
  • Số lượng đám da bị vảy nến: Không giới hạn, có thể lên đến hàng trăm những khu vực tổn thương trên da.

Phương pháp chẩn đoán

Để chẩn đoán vảy nến, trước kia người ta thường sử dụng nghiệm pháp cạo vảy theo phương pháp Brocq, cạo nhẹ trên bề mặt tổn thương nhằm phát hiện các dấu hiệu đặc trưng như:

  • Cạo vào lớp vảy thấy vảy bong ra vụn như bột trắng.
  • Tiếp tục cạo sẽ thấy một lớp màng mỏng trong suốt, dai và có thể bóc được như vỏ hành.
  • Sau khi bóc hết lớp màng mỏng sẽ lộ ra nền da màu đỏ, có rớm máu lấm tấm như giọt sương.
  • Người bệnh sẽ thấy ngứa rất nhiều ở giai đoạn bệnh đang tiến triển. Có khoảng 20-40% trên tổng số ca mắc vảy nến xuất hiện triệu chứng ngứa, phần còn lại sẽ không ngứa mà có cảm giác vướng hoặc khó chịu do ảnh hưởng đến thẩm mỹ.
  • Có khoảng 25% số ca mắc có tổn thương ở móng. Quan sát thấy bản móng xuất hiện hố lõm nhỏ cùng các đường kẻ dọc móng. Ngoài ra, móng người bệnh vảy nến thường dày ở bờ ngoài, giòn vụn. Triệu chứng này có thể gặp ở tất cả các đầu móng tay.
  • Ở da đầu, các vị trí bị bệnh thường là mảng lớn, có nền cộm màu đỏ, trên bề mặt bao phủ bởi các lớp vảy phấn trắng. Đám vẩy nến thường sẽ mọc loang rộng ra cả trán thành một viền (vành vảy nến). Tóc của người bệnh vẫn mọc bình thường và xuyên qua vùng da tổn thương. Mảng tổn thương có thể dày cộm lên cùng các vảy trắng dính. Vùng da sau tai thường đỏ, hình thành vết nứt hoặc bị xuất tiết. Các bác sĩ sẽ cần chẩn đoán phân biệt triệu chứng này với bệnh viêm da da đầu hoặc bệnh á sừng liên cầu.
  • Về tiến triển bệnh: Vảy nến là một bệnh mãn tính tồn tại suốt cuộc đời. Trong đó, các đợt phát triển bệnh sẽ đan xen với các đợt bệnh thuyên giảm. Nếu là thể bệnh thông thường thì được coi là lành tính và người bệnh vẫn sống khỏe mạnh suốt đời. Nguy hiểm nhất là các thể bệnh nặng vì có thể gây ra nhiều biến chứng ảnh hưởng lớn đến sức khỏe.

    Bệnh vảy nến là gì? Nguyên nhân, triệu chứng và cách chữa từ chuyên gia
    Người bệnh nên thăm khám sớm khi có các dấu hiệu của bệnh

Cách phòng ngừa vảy nến

Để phòng ngừa bệnh vảy nến, cần duy trì thực hiện các biện pháp sau:

  • Giữ vệ sinh cơ thể sạch sẽ, tắm hàng ngày, thay quần áo sạch sẽ, giặt đồ thường xuyên.
  • Sử dụng kem dưỡng ẩm hàng ngày để cung cấp nước cho da, giúp da luôn mềm mại và khỏe mạnh. Đây không chỉ là biện pháp phòng tránh vảy nến mà còn chống lại các bệnh da liễu khác.
  • Uống đủ nước, ăn nhiều rau xanh, hoa quả tươi, đặc biệt ăn nhiều các loại hoa quả nhiều vitamin C, vitamin A…
  • Ăn uống đủ chất để tăng sức đề kháng cho cơ thể, nhờ đó chống lại các tác nhân gây bệnh vảy nến.
  • Tránh tiếp xúc trực tiếp với hóa chất, xà phòng bằng cách đeo găng tay, mặc đồ bảo hộ (nếu phải làm việc trong môi trường có hóa chất).
  • Vận động hàng ngày để tăng cường thể lực.
  • Nghỉ ngơi hợp lý, hạn chế căng thẳng, stress quá mức – một tác nhân dẫn đến bệnh vảy nến.

Cách chữa bệnh vảy nến

Hiện nay, chưa có một phương pháp hay loại thuốc nào có thể điều trị khỏi hoàn toàn bệnh vảy nến. Tuy nhiên, nhiều loại thuốc được sử dụng để điều trị tại chỗ hoặc toàn thân có tác dụng giúp bệnh thuyên giảm và ổn định trong một thời gian dài.

Lưu ý rằng, những liệt kê thuốc dưới đây đều là tham khảo, điều trị bệnh vảy nến cần căn cứ vào thể bệnh và diễn tiến của nó. Rất nhiều trường hợp có thể phải thay đổi thuốc hoặc phương pháp điều trị liên tục thì mới hiệu quả. Hãy luôn tuân thủ chỉ dẫn của bác sĩ để đạt hiệu quả điều trị tốt nhất.

Vậy bị vảy nến uống thuốc gì? Hãy tham khảo các biện pháp điều trị dưới đây.

Điều trị tại chỗ

  • Thuốc mỡ Salicylé (loại 2%, 3% hoặc 5%): Dùng để làm bạt sừng và bong các vị trí da bị vảy  nến.
  • Thuốc mỡ Corticoid: Ví dụ Eumovate hoặc Diprosalic: Là các thuốc dùng để chống viêm, giảm thương tổn. Tuy nhiên, thuốc này không được dùng lạm dụng hoặc bôi trong thời gian dài, bôi quá nhiều vì có thể gây bệnh nặng thêm.
  • Thuốc mỡ có Vitamin A axit: Ví dụ Differin, Erylick hoặc Isotrex. Đây là các thuốc giúp ổn định quá trình sừng hóa trên da, giảm khô da do bệnh vảy nến gây ra.
  • Quang trị liệu bằng tia cực tím: UVB, UVA tia cực tím có bước sóng ngắn và dài. Phương pháp trị liệu bằng ánh sáng UVB, UVA dải hẹp đã chứng minh được hiệu quả điều trị bệnh vảy nến rất tốt.
  • PUVA : Đây là phương pháp kết hợp thuốc và chiếu tia UVA. Bệnh nhân sẽ bôi hoặc uống Psoralene rồi chiếu tia UVA lên vùng da bị bệnh vảy nến.

Bệnh vảy nến là gì? Nguyên nhân, triệu chứng và cách chữa từ chuyên gia

    Cách chữa vảy nến bằng thuốc Tây

Chữa vảy nến toàn thân

  • Điển hình là các loại thuốc như: Soritane hoặc Tigasone (nhóm Vitamin A axit) hoặc Methotrexate hay Cyclosporin… Đây đều là các thuốc dùng theo chỉ định nghiêm ngặt của bác sĩ. Tuy thuốc có tác dụng nhanh nhưng nhiều tác dụng phụ như gây giảm bạch cầu, rối loạn chức năng của gan, thận thậm chí là gây quái thai nếu không dùng đúng. Do đó người bệnh vảy nến nên thận trọng trước khi sử dụng.
  • Corticoid: Loại dùng đường uống như Prednisolone hoặc Medrol. Có thể dùng loại tiêm tĩnh mạch như Methylprednisolone. Là các loại thuốc được sử dụng trong các trường hợp bệnh vảy nến đặc biệt, được chỉ định bởi bác sĩ chuyên khoa. Không được lạm dụng nhóm thuốc này vì sẽ khiến bệnh nặng thêm hoặc gây nhiều biến chứng rất nguy hiểm.

Các thống kê về bệnh vảy nến và tài liệu tham khảo

Dưới đây là những con số thống kê về bệnh:

  • Tại Việt Nam, tỷ lệ người mắc bệnh vảy nến chiếm 5-7% trên tổng số bệnh nhân da liễu tới khám và điều trị tại các phòng khám da liễu.
  • Tính riêng tại Viện Da liễu Quốc gia năm 2000, có khoảng 13% bệnh nhân vẩy nến trong số những bệnh nhân điều trị nội trú.
  • Trên toàn thế giới, tỷ lệ người mắc bệnh vảy nến rơi vào khoảng 1-3% dân số.
  • Độ tuổi mắc bệnh phổ biến trong khoảng từ 20-50 tuổi, ngoài ra trẻ nhỏ dưới 10 tuổi hay người trên 50 tuổi cũng có khả năng mắc bệnh.
  • Tỷ lệ mắc bệnh ở nam và nữ là như nhau.

Một số tài liệu tham khảo về bệnh vảy nến:

  • Bệnh vảy nến – PGS. TS. Trần Hậu Khang, mục chia sẻ chuyên môn cùng đồng nghiệp, Bệnh viện da liễu Trung ương.
  • Bệnh vảy nến,   PGS.TS Nguyễn Duy Hưng,  Bệnh viện Da liễu TW.
  • Sinh bệnh học bệnh vảy nến, ThS. Lê Hữu Doanh, Bộ môn Da liễu, Đại học Y Hà Nội

Trên đây là những thông tin về nguyên nhân, triệu chứng, cách chẩn đoán và chữa vảy nến. Hy vọng qua bài viết này quý độc giả sẽ có thể nhiều kiến thức bổ ích về căn bệnh da liễu này. Chúc bạn và người thân luôn mạnh khỏe!

Ngày cập nhật gần nhất:

Bác sĩ đa khoa Trần Hùng Bác sĩ đa khoa Trần Hùng

Về Bác sĩ đa khoa Trần Hùng

Bác sĩ đa khoa Trần Hùng hiện đang công tác tại bệnh viện Quân y 103 và là tác giả, cố vấn chuyên môn về các thông tin y tế, sức khỏe trên website: iwthanoi.vnTiểu sử: Bác sĩ Trần Hùng sinh ngày 25/04/1970 tại xã Đại Bái, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Từ năm 1978 - 1981 ông học tại Trường trung học phổ thông Gia Bình - Huyện Gia Bình - Tỉnh Bắc Ninh. Từ năm 1982 - 1987 ông thi đỗ và theo học tại Trường đại học Y Hà Nội, từ năm 1988 - 2001 ông là Bác sĩ đa khoa tại Bệnh viện tỉnh Bắc Ninh. Từ năm 2002 - 2010 ông làm trưởng khoa y học cổ truyền tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh. Từ 2011 - 2019 ông là Giảng viên, cố vấn chuyên môn khoa nội tiêu hóa Bệnh viện Quân y 103
Xem tất cả các bài viết của Bác sĩ đa khoa Trần Hùng →

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *